VNTB – Chính Trị Gia Trí Thức Việt Nam kể từ 1975  ( Bài 2)

VNTB – Chính Trị Gia Trí Thức Việt Nam kể từ 1975  ( Bài 2)

Đan Tâm 

(VNTB) – Xét đến môi trường chính trị VN từ 1945 đến hiện tại thì sự cần thiết  của một tầng lớp chính trị gia trí thức rõ ràng là một ưu tiên cao nhất  cho quốc nội và hải ngoại. 

 

Tại quốc nội hiện nay thì các nhà chính trị cộng sản thuộc chế độ toàn  trị độc đảng không được công nhận là chính trị gia trí thức vì các lý do sau đây:

1. Họ bị đảng CSVN tẩy não toàn diện để trở thành những con  người XHCN tuyệt đối trung thành với chủ thuyết lạc hậu, cực  đoan và phong kiến Mác-Lê-Mao-Hồ, vốn đã bị đào thải từ hơn  40 năm trước (1980) ra khỏi nền văn minh nhân loại kể từ đầu  thế kỷ 21 này. Hiếm hoi có vài thành phần chóp bu của đảng  CSVN thức tỉnh muốn quay về với môi trường chính trị trí thức  (dân chủ, tự do, nhân quyền) thì lập tức bị chính cái đảng quái  gở này triệt tiêu ngay lập tức, như Nguyễn Mạnh Tường, Phan  Khôi, nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, Trần Xuân Bách, Nguyễn  Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính, v.v… Ngay sau 1975,  Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Tảng, Trịnh Đình  Thảo & Dương Quỳnh Hoa bị cô lập, sau đó 10 năm là Trần  Văn Trà, Nguyễn Hộ rồi đến Nguyễn Hà Phan và nạn nhân cuối  cùng cuộc đấu đá Nam-Bắc của đảng CSVN là Võ Văn Kiệt.

2. Chính trị gia của đảng CSVN đã không đủ tầm nhìn để hành  động kịp thời theo 3 cuộc biến đổi lịch sử của đất nước mà mọi  người đã chứng kiến qua 3 mốc điểm sau:

a.) Năm 1975 sau khi kết thúc chiến tranh VN, đảng CSVN cai  trị toàn cõi VN và đã làm cho đất nước nghèo đói, người dân  phải ăn độn, ngoại giao bị cô lập bên ngoài các nước văn minh  tiến bộ, suốt 11 năm từ 1975 đến 1986. Những thất bại trong mô  hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, giá lương tiền của hàng  chục triệu người, được điều tiết theo ý chí chủ quan nhưng lại  thiếu hiểu biết về quy luật thị trường. Kinh tế đất nước đã rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, lạm phát tăng hàng ngày, đồng  bằng với đất đai phì nhiêu mà dân thiếu gạo ăn.

b.) Năm 1986, CSVN bị buộc phải thay đổi hay “Đổi Mới”  (renovation), sau khi Liên Xô đã đi vào lụn bại và sắp tàn. Nhờ  Đổi Mới nông dân (80% dân số) có thể lựa chọn ở trong hợp tác  xã hoặc ra ngoài làm ăn cá thể và được làm chủ ruộng đồng của  mình nên Việt Nam đã trở thành nước xuất gạo nhất nhì thế giới  từ năm 2010. Nhưng công cuộc đổi mới này chẳng có gì là mới  vì chính trị thì vẫn độc tài, độc đảng và toàn trị, kinh tế thì  hoang tưởng với chính sách “Kinh Tế Thị Trường Định Hướng  XHCN” rất hỗn loạn và phi tri thức.

c.) Năm 2000 thì thế giới chuyển biến đi vào thời kỳ toàn cầu  hóa kinh tế, trong khi đó CSVN chỉ biết lợi dụng yếu tố nhân  công rẻ để chiêu dụ đầu tư quốc tế thay vì hội nhập toàn cầu hóa  để kiến tạo một nền kinh tế bền vững (sustainable) cho VN như  Singapore, Đại Hàn & Đài Loan đã thực hiện thành công. Tuy  yếu tố nhân công rẻ – dưới nhãn quan đầu tư ngoại quốc vào VN  có đem lại cho người dân VN thu nhập khá & thoát ách nghèo  đói đồng thời tạo một ra một bộ mặt mới cho VN, nhưng bản  chất của nền “Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN” vẫn  không bền vững nên tệ nạn tham nhũng, lợi ích nhóm, bong  bóng nhà đất, chứng khoán, ngân hàng và đầu tư đang trong tình  trạng giao động & mất kiểm soát kể từ 5 năm qua (2018-2023  này).

Kể từ năm 2000, Khi có của ăn của để đôi chút, người dân nghĩ đến đi ra ngoài xem thế giới họ sống ra sao. Khi đó, 70  triệu người Việt dù không có đủ tiền mua vé máy bay đi ra nước  ngoài nhưng họ có thể du lịch qua “thế giới ảo”Internet. Đó chính là thế giới thông tin World Wide Web và giấc mơ Internet  cho Việt Nam. Trước năm 1997, CSVN đã sợ hãi “thông tin  trung thực từ Internet vào VN sẽ lật tẩy tuyên truyền 1 chiều  kiều tuyên giáo Đảng & kéo người dân ra khỏi tình trạng lạc  hậu về tư tường”. Sau khi trì hoãn cả chục năm và cuối cùng vào  năm 1997, CSVN cũng đành chấp nhận nối mạng vào Internet,  nhưng vẫn tìm cách kiểm duyệt những tri thức độc lập ngoài  luồng chủ thuyết Mác Lê Mao Hồ. Internet chính là đòn bẩy cho  kinh tế đất nước, là “cái cày” của người dân trong “đồng ruộng”  toàn cầu hóa. Đưa Internet đến từng người dân giống như ta đã trả lại ruộng đất cho nông dân thuở trước. Họ tự biết làm  thế nào để tạo ra sản phẩm trên “đồng ruộng tri thức” ấy để  xuất khẩu loại “gạo” mới.

Hơn 30 năm qua, nhờ vào Internet, dù bị hạn chế, nước Việt  Nam đã phát triển mạnh hơn bao giờ hết với nhịp độ tăng trưởng  7-8% năm cho tới thời kỳ dịch Vũ Hán 2019 lan ra toàn cầu.

Ba sự kiện trên đều xảy ra cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21. Bây giờ  nhân loại đã sang thế kỷ 21 được hơn hai thập kỷ với nhiều kỳ vọng  thay đổi nhưng nước CSVN vẫn chưa có một thành tựu IT nào đáng  kể trên “đồng ruộng trí thức” ấy để xuất khẩu. Đó chính là vì suốt 3  thời kỳ a,b,c nói trên thành phần chính trị gia T.Ư. của đảng CSVN  không hề có một người nào là chính trị gia trí thức.

Cách đây 30-40 năm, những nhà lãnh đạo Singapore, Hàn Quốc hay  Đài Loan đã quan niệm IT và Internet là cách thức phát triển cho họ  nên không ngạc nhiên thấy đất nước người ta đã “hóa rồng” từ lâu.  Thiết nghĩ, chính khách thời nay cần có hiểu biết về xu hướng công  nghệ, có tầm nhìn xa vài thập kỷ và đặt lợi ích của cả dân tộc lên trên  lợi ích của đảng phái, bằng không IT Việt Nam mãi mãi dừng lại  trong các bài phát biểu chung chung của các chính trị gia thiếu tri thức  của CSVN. Vì vậy chính sách “Đổi Mới” có từ gần nửa thế kỷ qua  vẫn còn nguyên giá trị: đất nước đang cần sự đổi mới về công nghệ  trong tư duy lãnh đạo CSVN.

Thế giới đã đi rất xa về công nghệ. Việt  Nam cũng đã có nhiều tiến bộ với hạ tầng Internet thuộc loại tốt trong  khu vực, người dùng cũng nhạy bén, mới đây ChatGPT (AI chatbot) đã được người dân trong nước rầm rộ dùng thử, dù VN chưa chính  thức có dịch vụ này. Hơn một nửa dân số có tài khoản mạng xã hội,  nên Internet đã phủ sóng ngang như lưới điện về nông thôn, nhưng lợi  thế nầy không được các lãnh đạo trung ương của CSVN biết cách tận  dụng cho kinh tế bền vững. Ngược lại, họ chỉ tạo ra các cơ chế phá  hoại như Lực lượng 47, Dư Luận Viên, An Ninh Mạng của bộ Quốc  Phòng và của bộ Công An, … Để có ngành IT thành mũi nhọn thì  chiến lược phát triển lâu dài mới có thể thành công.

Trong công nghệ,  sao chép, bắt chước, đi tắt đón đầu mà lãnh đạo CSVN hay rêu rao thì  cũng chỉ là những giải pháp vá víu và lạc hậu trong thời đại Internet  đang minh bạch hóa thông tin toàn cầu. Cổ nhân đã dạy “Hiền tài là  nguyên khí quốc gia”. Thời đại toàn cầu hóa thì chất xám quyết định  quốc gia nào sẽ tiến lên và ai là người tụt hậu. Nếu không có chính sách ưu đãi nhân tài và tạo điều kiện để hiền tài phát triển thì nguyên  khí sẽ bay đi. Chuyện muôn thuở “đất lành chim đậu”, một quy luật tự  nhiên của dòng chảy chất xám từ quê ra tỉnh, từ miền núi xuống đồng  bằng, từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác.

CSVN chỉ đầu tư cho chính trị gia “hồng hơn chuyên” thì làm sao có  được hiền tài (chính trị gia trí thức). Tại VN ngày nay, nền tảng công  nghệ đã tốt, thế hệ trẻ kiến thức không kém ai, đất nước cũng ổn định,  nhưng rõ ràng thiếu cái gì đó mà IT xứ này chưa có sản phẩm nào nổi  tiếng, chưa cần nói đến AI hay ChatGPT. Hay là môi trường phát  triển có gì đó không ổn? Người có trình độ nhìn vào sẽ tự thấy mình  cần “hòa nhập cho giống” hay lắc đầu bỏ đi, cả hai giải pháp đều  hỏng, để rồi nước mình mãi đi sau, về sau. Bế tắc chính yếu là đảng  CSVN không hề có bất cứ chính trị gia trí thức nào trong suốt quá trình cướp quyền cai trị ½ nước VN trước 1975 và toàn cõi VN từ  1975 đến nay.


CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)