VNTB- Có thể khởi kiện hành chính về quyết định tước quốc tịch Việt Nam của một công dân Việt Nam

Trần Thành

(VNTB) – Lần đầu tiên trong lịch sử, một người
Việt “gốc” – cụ thể ở đây là ông Phạm Minh Hoàng, sinh ra và lớn lên tại Việt
Nam, có cha mẹ, tiên tổ là người Việt, lại bị nhà cầm quyền “truất quốc tịch Việt
Nam”. Đây là một tiền lệ xấu.

cũng có thể lần đầu tiên, một quyết định của chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam sẽ
phải đối mặt với đơn khởi kiện hành chính tại Tòa án thành phố Hà Nội theo quy
định tại Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính 2015.
Quốc tịch là quyền mặc định
Luật
Quốc tịch Việt Nam, “Điều 2. Quyền đối với quốc tịch: 1. Ở nước CHXHCN Việt
Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công
dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều
31 của Luật này
”.
Điều
31 của Luật Quốc tịch Việt Nam nói rằng nếu ông Phạm Minh Hoàng đã từng từ bỏ
quốc tịch Việt Nam, và sau đó tiến hành các thủ tục hành chính để được nhập quốc
tịch Việt Nam, thì khi ông Phạm Minh Hoàng có những hành vi được xem là ảnh hưởng
đến uy tín chính trị của Việt Nam, lúc đó, ông Phạm Minh Hoàng có thể bị tước
quốc tịch Việt Nam.
Ông
Phạm Minh Hoàng chưa có tuyên bố từ bỏ quốc tịch Việt Nam, nên ông không chịu sự
điều chỉnh của Điều 31, Luật Quốc tịch Việt Nam. Công dân Phạm Minh Hoàng được
bảo hộ về quốc tịch Việt Nam, cũng như ông không thể bị trục xuất rời khỏi Việt
Nam với bất kỳ lý do nào. Các quyền đó được ghi rõ trong Hiến pháp 2013, “Điều
17: 1. Công dân nước CHXHCN Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. 2. Công
dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác”.
Như
vậy, việc ông chủ tịch nước ra quyết định tước quốc tịch Việt Nam đối với công
dân Việt Nam Phạm Minh Hoàng là vi phạm Điều 17 của Hiến pháp, và Điều 2 của Luật
Quốc tịch Việt Nam.
Khởi kiện nếu khiếu nại bất thành
Vấn
đề đặt ra, như lời của luật sư Đặng Đình Mạnh – người được ông Hoàng nhờ trợ
giúp pháp lý trong vụ này, thì luật sư sẽ khiếu nại quyết định của chủ tịch nước,
nếu không được thì sẽ khởi kiện.
Cho
đến nay liên quan đến chế định chủ tịch nước, thì vẫn chưa có văn bản nào quy định
về các quyền ưu tiên, miễn trừ của chủ tịch nước. Do đó, căn cứ để khởi kiện
trong tố tụng hành chính ở quyết định tước quốc tịch nói trên, bao gồm những điều
như sau của Luật Tố tụng hành chính 2015: “Điều 2.1 Luật tố tụng hành chính được
áp dụng đối với mọi hoạt động tố tụng hành chính trên lãnh thổ bao gồm đất liền,
hải đảo, vùng biển, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; “Điều
17. Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính: 1. Trong tố tụng
hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc,
giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,
địa vị xã hội. 2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án. 3. Tòa án có trách nhiệm
tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
mình”; “Điều 32.1 Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu
kiện sau đây: 1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng
Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong
cơ quan đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với Tòa án”.
Khi pháp luật không được tuân thủ
Trong
quyết định tước quốc tịch Việt Nam của công dân Phạm Minh Hoàng, có hai nội
dung cho thấy dấu hiệu không tuân thủ trình tự quy định của pháp luật. Thứ nhất, như đã nói ở trên, chuyện quốc
tịch Việt Nam của ông Hoàng không chịu sự điều chỉnh của Điều 31, Luật Quốc tịch
Việt Nam, do đó, dòng viện dẫn “Xét đề nghị của Chính phủ tại Tờ trình số
191/TTr-CP ngày 12/5/2017” trong Quyết định 832/QĐ-CTN, ký ngày 17/5/2017
và không có chữ ký cùng con dấu của Văn phòng chủ tịch nước Trần Đại Quang, cho
thấy chưa đủ cơ sở pháp lý để tước quốc tịch Việt Nam ngay cả khi ông Phạm Minh
Hoàng thuộc trường hợp chịu sự chế tài của Điều 31, Luật Quốc tịch. Đó cũng
chính là điểm sai thứ hai trong quyết
định.
Nghị
định số 78/2009/NĐ-CP
“quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam”, ở Điều 16 cho biết
hồ sơ kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam, có: a) Văn bản kiến nghị của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh hoặc Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài về việc tước quốc
tịch Việt Nam; b) Các tài liệu xác minh, kết luận của các cơ quan có thẩm quyền
về hành vi vi phạm của người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam; c) Đơn, thư tố
cáo người bị đề nghị tước quốc tịch Việt Nam (nếu có).
Trong
trường hợp Tòa án đã xét xử bị cáo có hành vi gây phương hại nghiêm trọng đến nền
độc lập dân tộc, đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoặc đến uy
tín của nước CHXHCN Việt Nam, thì hồ sơ gồm có: a) Văn bản kiến nghị của Tòa án
về việc tước quốc tịch Việt Nam. b) Bản án đã có hiệu lực pháp luật và các tài
liệu có liên quan.
Ông
Phạm Minh Hoàng từng chịu mức án 17 tháng tù giam về tội “hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân” theo khoản 2 Điều 79 Bộ Luật Hình sự. Ngày 13/1/2012, ông
đã được trả tự do. Bản án không có kiến nghị tước quốc tịch Việt Nam của ông Phạm
Minh Hoàng.
Trong
Quyết định 832/QĐ-CTN, ký ngày 17/5/2017 được cho là ông Trần Đại Quang đã ký,
cho thấy về trình tự thủ tục hành chính làm căn cứ để ban hành quyết định tước
quốc tịch, đã không tuân thủ Luật Quốc tịch và Nghị định số 78/2009/NĐ-CP.

Có một lăn tăn, về mặt hình thức
văn bản pháp quy, vì sao một quyết định liên quan đến quyền quốc tịch của công
dân, lại không có chữ ký của chủ tịch nước và con dấu quốc huy?
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (2)
  • comment-avatar
    Nặc danh 7 years

    Tác giả hơi bị quáng gà khi viện dẫn hổng có chữ ký của Chủ tịch Trần Đại Quang là phán ngay "được xem là". Đọc kỹ dùm 4 chữ "Sao Y Bản Chánh" to đùng đi . Tức là có 1 bản chánh với chữ ký, đóng dấu vv … vv … của chính Chủ tịch Trần Đại Quang . Thường thì bản chánh lưu ở văn phòng chính phủ/Đảng, xuống tới cơ quan người ta chỉ dùng bản sao . Cứ thử tưởng tượng mỗi phòng văn bản đi qua là phải có chữ ký thật của Chủ tịch thì ô Trần Đại Quang không làm được gì khác ngoài việc hý ha hý hoáy ký tên mình suốt ngày .

    Đọc bài này mới thấy luật pháp nước Xã Hội Chủ Nghĩa còn (rất) nhiều chỗ hở . Riêng quốc tịnh thôi đã thấy cần phải bổ xung tư cách công dân xã hội chủ nghĩa phải là nghĩa vụ & vinh dự, có nghĩa nếu không xứng đáng, có thể bị tước .

    Cũng cần bổ xung là trong (những) trường hợp đặc biệt, lãnh đạo cấp cao nhất có quyền bypass (vượt qua) luật, ví dụ như tông tông có quyền tha bổng phạm nhân tử hình . Và nếu có thông qua luật bảo vệ lãnh đạo, nên coi việc khởi kiện lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao, là 1 hình thức xâm phạm .

    • comment-avatar

      Về mặt hình thức văn bản pháp quy, ở các văn bản khác đều có con dấu, chữ ký, vì nếu phát hành bản sao, thì cũng cần bấy nhiêu số lượng, con dấu và chữ ký, đồng thời còn phải qua thêm khâu sao y và phát hành.