VNTB – Cộng Sản sẽ không còn là cộng sản

VNTB – Cộng Sản sẽ không còn là cộng sản

Người Tân Định

 

(VNTB) – Chẳng chóng thì chầy, Đảng CS sẽ phải dùng cách ngụy trang nào đó từ bỏ mô hình Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân như với công cụ sản xuất. Hay nói rõ hơn họ phải từ bỏ lý thuyết  căn bản của Cộng sản là “bãi bỏ tư sản.

 

“Lý thuyết của Cộng sản có thể tóm tắt trong một câu đơn giản: bãi bỏ tư sản”

Câu này không trích từ một tác phẩm cụ thể của Karl Marx mà là một cách tóm gọn lý thuyết cơ bản của Marx về Cộng sản. Ý tưởng này phổ biến trong các tác phẩm của Marx và Engels, như “Chủ nghĩa Cộng sản” (The Communist Manifesto) năm 1848 và “Chủ nghĩa Tư bản” (Das Kapital). Trong các tác phẩm này, Marx và Engels trình bày và phát triển ý tưởng về việc thay đổi xã hội từ hệ thống tư sản hiện tại sang xã hội cộng sản.

Karl Marx muốn loại bỏ hệ thống tư sản, nơi các phương tiện sản xuất (như nhà máy, đất đai) thuộc sở hữu của tư sản, và thay vào đó tạo ra một xã hội trong đó tài sản và phương tiện sản xuất được sở hữu và kiểm soát chung bởi một xã hội cộng đồng. Điều này liên quan đến ý tưởng cộng sản và sự chia sẻ tài sản để đạt được sự bình đẳng xã hội.(?)

Các nhà lãnh đạo cộng sản VN, cũng giống Trung Quốc, Bắc Hàn, Lào, Cuba dù đã phải thua, bỏ cuộc, trong việc tịch thu toàn bộ công cụ sản xuất, phải để tư nhân sở hữu tư bản, dẫn đến VN giờ có hàng trăm ngàn người mà trước kia bị buộc tội là tư sản mại bản, bóc lột sức lao động, bị bỏ tù, đấu tố, giết bỏ. Họ đang được chính Đảng Cộng Sản tung hô là làm giầu cho đất nước. Họ đang làm chủ hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa VN. Phần còn lại đến 90% dân số là công nhân “bị bóc lột”.

Đảng CS VN dù thua trận phải trả lại quyền sở hữu công cụ sản xuất cho người dân, nhưng họ vẫn khư khư giữ lại đất đai qua cái chính sách gọi là “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân.”

Karl Marx, người sáng lập chủ nghĩa cộng sản, không phải là người đầu tiên đề cập đến vấn đề sở hữu đất đai. Trước ông đã có

  • Thomas More (1478-1535)

 Nhà tư tưởng và chính trị gia người Anh, đã đưa ra mô hình xã hội lý tưởng trong tác phẩm “Utopia” (1516), Không Tưởng, More đề xuất một xã hội cộng sản, trong đó tất cả các phương tiện sản xuất, đất đai, thuộc sở hữu chung của cộng đồng.

  • Jean-Jacques Rousseau (1712-1778)

Triết gia người Pháp, trong tác phẩm Contract Social, Hợp đồng xã hội, (1762), đã đề xuất ý tưởng về sở hữu chung của đất đai để ngăn chặn sự bất bình đẳng xã hội. Ông nhấn mạnh ý tưởng về việc đưa đất đai vào sở hữu công bằng của cộng đồng.

Các mô hình xã hội lý tưởng của Moore và Rousseau đều thất bại. Nhưng Karl Marx gần như nhai lại ý chính các ý tưởng đó.

Cả hai mô hình của More và Rousseau đều khá lý tưởng, nhưng khó áp dụng vào thực tế một cách toàn diện. Một số yếu tố đã làm cho việc thực hiện chúng không thành hiện thực như sự phức tạp của xã hội, quản lý, và các yếu tố văn hóa, không phù hợp với thực tế phát triển.

Khắc biệt quan trọng giữa các triết lý xã hội và chính trị của Thomas More, Jean-Jacques Rousseau và Karl Marx.

Mặc dù có sự tương đồng trong việc đề xuất các mô hình xã hội cổ điển, nhưng các nhóm này có những tiếp cận khác nhau đối với vấn đề đất đai và chủ nghĩa cộng sản.

  • Thomas More được biết đến với tư duy nhân bản, tôn trọng nhân vị, nhân quyền và quan điểm về một xã hội lý tưởng, nơi mọi người sống trong hòa bình và công bằng. Ông không ủng hộ bạo lực và luôn tìm kiếm sự cải cách thông qua giáo dục và đạo đức.
  • JJ Rousseau cũng ủng hộ một xã hội dựa trên tự do và bình đẳng gần với T. Moore. Ông phê phán xã hội tự nhiên và đề xuất một “Trạng thái Tự nhiên”, State of Nature, nơi cá nhân và ý chí tập thể hoà hợp. Rousseau không ủng hộ bạo lực như một phương tiện để đạt được mục tiêu này.
  • Karl Marx khác, ông tin rằng xung đột giai cấp là một phần không thể tránh khỏi của xã hội tư bản và rằng cuộc cách mạng của giai cấp vô sản là cần thiết để chấm dứt sự bất công. Ông tin rằng sự thay đổi xã hội sẽ đến thông qua sự tổ chức và hành động chính trị của những người lao động.

Thomas More và Jean-Jacques Rousseau đề xuất mô hình xã hội lý tưởng không nhất thiết đi theo hướng vô sản chủ nghĩa. Mô hình xã hội của họ có thể mô tả sự công bằng và sở hữu chung, không nhất thiết đòi hỏi sự chấm dứt hoặc thay thế hoàn toàn hệ thống tư nhân sở hữu.

Karl Marx, ngược lại, là một nhà tư tưởng chủ nghĩa cộng sản mạnh mẽ. Ông tin rằng xung đột giai cấp là một phần không thể tránh khỏi của xã hội tư bản và rằng cuộc cách mạng của giai cấp vô sản là cần thiết để chấm dứt sự bất công. Thật ra thì Marx không ủng hộ bạo lực một cách mù quáng. Ông tin rằng sự thay đổi xã hội sẽ đến thông qua sự tổ chức và hành động chính trị của những người lao động. Trong “Chủ nghĩa Cộng sản,” ông không chỉ mô tả một xã hội với sự sở hữu chung, mà còn kêu gọi cuộc cách mạng vô sản, mà sau này những người theo ông như Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành, Pol Pot thực hiện các cuộc cách mạng bạo lực đẫm máu, núp dưới mọi chiêu bài, hòng chấm dứt hoặc chuyển hóa hoàn toàn hệ thống tư nhân sở hữu sản xuất, tư hữu đất đai sang chế độ cộng sản.

Trong chính sách “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, thực chất đảng CS thâu tóm đất đai và làm giầu trên đó, xuất hiện một số vấn đề và thách thức mà người dân phải đối mặt. Dưới đây là một số gây ảnh hưởng tiêu cực:

  1. Hạn chế quyền sử dụng và sở hữu. Người dân chỉ được cấp quyền sử dụng đất theo một thời hạn nhất định.
  2. Hạn chế quyền quyết định về sử dụng đất tuân theo quy định của nhà nước, và người dân có thể không có quyền quyết định tối đa về các vấn đề này.
  3. Rủi ro mất quyền lợi khi có thay đổi chính sách. Nếu có thay đổi trong chính sách quản lý đất đai của chính phủ, người dân có thể phải đối mặt với rủi ro mất quyền lợi hoặc thậm chí mất quyền sử dụng đất.
  4. Khả năng thiếu đất cho sinh sống và sản xuất:

Tình trạng này đang xảy ra tại vùng nông thôn Nam Bộ, thấy rõ nhất trong thời kỳ dịch COVID-19, người từng là nông dân trở về từ thành phố đã không có đất canh tác nữa.

  1. Khả năng thất nghiệp trong ngành nông nghiệp. Chính phủ quyết định quản lý nghiêm ngặt đất đai nông nghiệp, có thể có nguy cơ tăng cao về thất nghiệp trong ngành nông nghiệp.

Trong khi đó có những doanh nghiệp thuộc cánh hẩu với quan chức của Đảng, nhà nước được chia đất quá nhiều dẫn đến tham nhũng đất đai. Mô hình quản lý đất đai bởi nhà nước mở ra cơ hội cho các vấn đề tham nhũng, đặc biệt là khi quá trình phân phối đất đai đã không minh bạch, công bằng. Những tình huống xấu xuất phát bởi chính nhà nước:

  1. Phân phối đất không công bằng. Quá trình phân phối đất đai thiên lệch, ưu tiên cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước hoặc chánh quyền.
  2. Chính quyền thiếu minh bạch và giám sát phát sinh tham nhũng lớn, rất lớn. Các quyết định được đưa ra không minh bạch, mở cửa cho sự lạm dụng quyền lực.
  3. Giao đất với giá thấp hơn thị trường. Đất đai được giao cho các doanh nghiệp với giá thấp hơn giá thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền bóc lột người dân, ăn chia với các doanh nghiệp
  4. Chủ thể nhận đất không qua quá trình cạnh tranh công bằng (đấu thầu trả tiền cao cho dân bị trưng dụng đất). Cấp đất hay thu hồi đất không thông qua quá trình cạnh tranh công bằng, mà thay vào đó là ưu tiên dựa trên mối quan hệ cá nhân hoặc quan hệ chánh quyền, đã tạo điều kiện cho tham nhũng.
  5. Giao đất với điều kiện không rõ ràng. Các giao kèo và điều kiện của việc giao đất có thể được thiết lập một cách không rõ ràng, tạo cơ hội cho tham nhũng khi có sự lạm dụng trong quá trình thương thảo và thực hiện hợp đồng.

Tham nhũng đất đai phát sinh từ cái vỏ bọc chính sách Đất Đai Thuộc sở Hữu Toàn Dân, thực chất là sở hữu của Đảng CSVN, đã gây đau khổ vô cùng cho người dân từ khi cộng sản làm chủ được một phần lãnh thổ VN qua các vụ đấu tố địa chủ, cường hào ác bá, hợp tác xã nông nhiệp cho đến bây giờ qua các tham nhũng lớn không thể tưởng tượng, như vụ Thủ Thiêm chẳng hạn, và đã tạo ra hàng triệu dân oan đau khổ khắp ba miền đất nước.

Thuật ngữ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thường được hiểu là đất đai thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, tức là toàn bộ cộng đồng quốc gia. Quyền quản lý và sử dụng đất đai được nhà nước quản lý và kiểm soát.

Những nguyên tắc này được lập trình trong hệ thống pháp luật và chính sách kinh tế của quốc gia cộng sản. Người dân có thể có quyền sử dụng đất đai nhưng không phải là quyền sở hữu theo nghĩa cá nhân. Thay vào đó, họ chỉ có quyền sử dụng đất đai dưới dạng quyền sử dụng đất có thời hạn, và quyền này có thể được quyết định bởi chính phủ hoặc cơ quan quản lý đất đai.

Lý thuyết cộng sản thì nguyên tắc chung là giảm bất bình đẳng và xóa bỏ sự chia rẽ giữa giai cấp. Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực hiện các nguyên tắc này đã không như ước mơ của Marx.

Hiển nhiên tại VN bây giờ, người có tiền mua được nhiều đất đai hơn so với người nghèo không có đất đai, điều này có thể được coi là sự bất công và không phù hợp với lý thuyết cộng sản, nhưng vẫn được Đảng CSVN cho là hợp lý và chấp nhận bất công.

Đảng CSVN dung dưỡng sự bất công này vì chính đảng viên của họ dẫn đầu trong khả năng chiếm lĩnh tài nguyên và tham nhũng, bè cánh không minh bạch trong quy trình phân phối đất đai.

Sự bất công trong việc sở hữu đất đai giữa những giai cấp khác nhau trong xã hội cộng sản VN là một thách thức cần phải giải quyết để đạt được mục tiêu của lý thuyết cộng sản. Khốn thay, Đảng CS và chính quyền VN hiện nay đứng về phía người có tiền, và người có nhiều tiền chi phối các quan chức đảng.

Trong xã hội Việt Nam có những hiện thực và động lực khác nhau đằng sau sự bất công trong phân phối tài nguyên.

Để một chính sách đất đai thuộc sở hữu toàn dân có thể thành công, cần có các yếu tố sau:

  1. Không có sự minh bạch và công bằng:

Sự minh bạch trong quá trình phân phối đất đai và công bằng trong cơ hội truy cập đất đai là yếu tố quan trọng. Nếu chính sách được thiết kế để đảm bảo tính minh bạch và công bằng, có thể có sự thành công.

  1. Quản lý hiệu quả:

Cách thức quản lý và triển khai chính sách đất đai là quan trọng. Nếu có sự quản lý hiệu quả, sự thành công là có thể.

  1. Phát triển kinh tế:

Chính sách đất đai thuộc sở hữu toàn dân cần phải hỗ trợ phát triển kinh tế cộng đồng. Nếu chính sách này ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế, có thể được coi là một yếu tố tích cực.

  1. Phản hồi từ cộng đồng:

Sự hài lòng và ủng hộ từ phía cộng đồng là một chỉ số quan trọng của sự thành công. Nếu người dân cảm thấy họ được công bằng và có quyền lợi, chính sách có thể được coi là thành công.

  1. Khả năng thích ứng và điều chỉnh:

Mô hình này cần có khả năng thích ứng với thay đổi và điều chỉnh khi cần thiết. Các chính sách không linh hoạt có thể gặp khó khăn trong việc đối mặt với thách thức và biến động.

  1. Trong bối cảnh lịch sử và văn hóa:

Chính sách cần phải phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn hóa của đất nước. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến cách chính sách được đón nhận và thực hiện.

Các ví dụ lịch sử và hiện tại, như Trung Quốc, Cuba, hay Việt Nam, đã có các phương pháp và kết quả khác nhau trong việc thực hiện chính sách đất đai thuộc sở hữu toàn dân.

 Tình hình chính trị và kinh tế của các quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam và Cuba, có thể đã thay đổi.

Trung Quốc:

Trung Quốc đã thực hiện mô hình chủ nghĩa xã hội, trong đó đất đai thuộc sở hữu của nhà nước hoặc các tập đoàn lớn, và người dân có thể sử dụng đất đai theo hình thức quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, có các thách thức liên quan đến quyền sở hữu đất đai và tái định cư, đặc biệt là ở nông thôn.

Việt Nam:

Việt Nam thực hiện chính sách đất đai thuộc sở hữu của nhà nước, và người dân có quyền sử dụng đất theo hình thức đất ở và đất sản xuất. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề liên quan đến quản lý đất và giải quyết tranh chấp đất đai.

Cuba:

Cuba thực hiện mô hình chủ nghĩa xã hội, trong đó nền kinh tế chủ yếu thuộc sở hữu của nhà nước. Có những vấn đề về quản lý đất và năng suất trong nền nông nghiệp.

Có thể thấy rằng ba quốc gia Trung quốc, Cuba, VN thực hiện chủ nghĩa xã hội hoặc mô hình đất đai thuộc sở hữu toàn dân đã trải qua các điều chỉnh và thay đổi theo thời gian. Điều này phản ánh sự thích ứng của họ với thực tế kinh tế và xã hội, cũng như áp lực từ bên ngoài và nhu cầu phát triển.

Trước đó họ thực hiện chính sách cực đoan trong việc đưa đất đai vào tay nhà nước hoặc cộng đồng, nhưng sau đó đối mặt với các khó khăn trong việc quản lý và tăng cường năng suất. Các biện pháp kiểm soát quá mức và thiếu kích thích cho cá nhân hoặc doanh nghiệp đã dẫn đến giảm hiệu suất và sự không hài lòng trong cộng đồng.

Những thay đổi này có thể xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh chính sách để khắc phục các vấn đề xuất phát từ triển khai cực đoan, và thay đổi quan điểm về quản lý tài sản. Đặc biệt sự phải mở cửa kinh tế theo chiều hướng tư bản khiến họ phải lơi tay trong việc xiết quyền tư hữu đất đai.

Có thể thấy cả ba quốc gia TQ, VN, Cuba đang đều đi dần xa ý tưởng Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân như lúc đầu họ chủ trương một cách cực đoan, Việt Nam nói riêng, thấy được qua những lần lúng túng thêm, bớt vào luật đất đai vẫn chưa xong. Chẳng chóng thì chầy, Đảng CS sẽ phải dùng cách ngụy trang nào đó từ bỏ mô hình Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân như với công cụ sản xuất. Hay nói rõ hơn họ phải từ bỏ lý thuyết căn bản của Cộng sản là “bãi bỏ tư sản.”


 

CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)