VNTB – Kinh Tế Dễ Hiểu: Trọng Cung hay Trọng Cầu (Chương 16)

VNTB – Kinh Tế Dễ Hiểu: Trọng Cung hay Trọng Cầu (Chương 16)

Đoàn Hưng Quốc

 

Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp.

 

1. Trọng Cung (đảng Cộng Hòa) và Trọng Cầu (đảng Dân Chủ) trong nước Mỹ 

 

Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.(1)

Phe chống đối cho rằng đây là chính sách kinh tế nhỏ giọt (trickle-down economics) giảm thuế để nhà giàu hưởng trước, phần còn lại dư thừa rơi rớt ban ơn mưa mốc xuống đến dân nghèo. Từ thập niên 1980 các doanh nghiệp lớn được giảm thuế nên đầu tư máy móc hữu hiệu hóa dây chuyền sản xuất, xây cất hãng xưởng bên Tàu, Việt Nam trong khi sa thải công nhân ở Mỹ, sau đó lại dùng tiền mua quyền lực hay tìm ngõ ngách chạy trốn vào các thiên đường thuế vụ nên phần rơi rớt chẳng còn lại bao nhiêu cho dân nghèo húp cháo. Chính sách trọng cung bị lên án làm hạn chế sức tiêu thụ trong dân chúng nhằm trợ cấp nhà giàu (theo kiểu tá điền ngày xưa phải bớt ăn để nộp địa tô cho điền chủ) nên là nguyên nhân khiến hố sâu giàu nghèo tăng vọt ở Hoa Kỳ kể từ thập niên 1980.

Trọng cầu là chủ trương kinh tế của đảng Dân Chủ. Quan điểm này bắt nguồn từ John M. Keynes khi ông cho rằng có nhu cầu mới dẫn đến sản xuất. Quần chúng cần tiêu thụ nhưng gặp lúc kinh tế khủng hoảng, nhu cầu từ khu vực tư nhân giảm (doanh nghiệp ế ẩm giảm đầu tư, công nhân mất việc giảm ăn xài) cho nên nhà nước phải kích cầu qua các khoản trợ cấp thất nghiệp, đầu tư xây cất hạ tầng, v.v…Như vậy nhà nước tạo ra nhu cầu mới để bù đắp vào khoảng trống thiếu hụt của tư nhân. Nhờ có nhu cầu trở lại nên doanh nghiệp mới tin tưởng đầu tư để tạo thêm công ăn việc làm. Đợi đến lúc kinh tế phục hồi thì nhà nước mới giảm chi, khi đó nhờ tăng trưởng nên mức thuế thu vào tăng để bù đắp vào các khoảng thiếu hụt ngân sách do những gói kích cầu. Chính sách này gọi là countercyclical fiscal policy – tức chi tiêu nhà nước tăng giảm đi ngược lại với chu kỳ suy thoái hay tăng trưởng của nền kinh tế tư nhân.

Dùng thí dụ dễ hiểu nếu cổ xe kinh tế chết máy nhà nước phải mồi xăng (kích cầu) thúc cho máy nổ. Máy đã nổ thì nhà nước phải rụt tay ra cho xe chạy. Tuy nhiên bàn tay lông lá của nhà nước một khi đã thò mò táy máy chẳng bao giờ chịu rút về.

Xin để ý là chữ “cầu” trong trọng cầu (demand-side) hàm ý tiêu thụ (consumption) và đầu tư (investment). Chữ “cung” trong trọng cung (supply-side) gồm tăng đầu tư và sản xuất (supply).

Phe trọng cầu bị lên án “tax and spend” tức nhà nước sưu cao thuế nặng để ăn xài phung phí.(2) Lý do vì nhà nước mập mờ đánh lận con đen giữa chi tiêu (spending) và đầu tư (investment): tiền welfare khiến quần chúng ỷ lại vào của tế bần nhà nước hay là đầu tư cho tương lai?(3) Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Từ John M. Keynes cho đến nay khuynh hướng trọng cầu không còn giới hạn vào chi tiêu nhà nước phải đi ngược với chu kỳ tăng trưởng. Theo lý luận hiện thời trong xã hội có một khối người nghèo không đủ cơ hội học hành tiến thân, tức năng lực của số người này bị phí phạm vì họ trở thành gánh nặng kìm hãm nền kinh tế không phát triển trọn vẹn (người kém học vấn hoặc thất nghiệp hay làm việc lương thấp khiến mức cung giảm, lại không đủ tiền tiêu xài khiến cầu giảm.) Vai trò của nhà nước là đánh thuế nhà giàu nhằm nâng đỡ nhà nghèo để tạo công bằng xã hội thì mọi người mới có cơ hội phát triển đồng đều giúp cho xã hội thăng tiến – lý luận hay và xạo hết chỗ nói cổ võ cho xã hội chủ nghĩa kiểu Biden, Bernie Sander, Elizabeth Warren, Paul Krugman và Joseph Stiglitz, lý do trong xã hội lúc nào cũng có giàu nghèo cho đến khi nhà nước đánh thuế cho mọi người cùng nghèo bình đẳng như nhau.

 

2. Trọng Cung (Trung Quốc) Trọng Cầu (Hoa Kỳ)

 

Kinh tế Trung Quốc chú trọng tiết kiệm (high-savings rate) để đầu tư (high-investment model) nhằm tăng gia sản xuất nên gọi là trọng cung. Hoa Kỳ đặt nặng vào tiêu thụ (consumption) nên phù hợp với trọng cầu. Vài số liệu tiêu biểu:

 

GDP
Hoa Kỳ
Trung Quốc
Đầu tư (%GDP)
21%
44%
Tiết kiệm (%GDP)
19%
44%
Tiêu thụ tư nhân (%GDP)
69%
38%

 

Dân Mỹ ăn xài gấp đôi dân Tàu cho nên tiết kiệm và đầu tư chỉ bằng phân nửa Trung Quốc. Tàu cung Mỹ cầu cho nên Mỹ mới thiếu nợ Tàu.

Do tiêu thụ chiếm 70% GDP ở Mỹ nên trong các thống kê thước đo về tâm lý của giới tiêu thụ (consumer sentiments) được xem là báo hiệu mức tăng trưởng của nền kinh tế, so ra còn quan trọng hơn cả số liệu sản xuất. Thí dụ nếu dân chúng lo thất nghiệp hay sợ không dám ra đường vì dịch cúm Tàu thì tâm lý của người tiêu dùng trở nên bi quan khiến dịch vụ mua bán chậm lại. Ngược lại lúc việc làm dễ kiếm và lương bổng tăng nhanh thì tâm lý của giới tiêu thụ sẽ lạc quan yêu đời tiêu xài mạnh tay.

Ngược lại tại Trung Quốc số liệu sản xuất chiếm vị trí quan trọng dự báo mức độ tăng trưởng. Cho dù đại gia Tàu (và Việt) nay ra ngoại quốc xài tiền bảnh hơn dân Mỹ nhưng nói chung đa số các gia đình Á Đông còn nhớ cảnh nghèo khó 20 năm trước nên vẫn cần kiệm nhiều hơn người da trắng. Dân Tàu (và Việt) lại để dành tiền giúp gia đình, lo bệnh hoạn, giáo dục con cái và chuẩn bị tuổi già vì mạng lưới xã hội không bằng Tây Phương. Mô hình phát triển ở Trung Quốc là ép buộc dân chúng tiết kiệm (financial repression) với lãi suất thấp để góp vốn giá rẻ cho doanh nghiệp đầu tư. Tăng trưởng dựa vào đầu tư, lại thiếu minh bạch sinh ra lãng phí rồi dẫn đến khối nợ xấu khổng lồ. Nền kinh tế Trung Quốc (và Việt Nam) theo chính sách trọng cung nên nhỏ giọt (trickle-down economics) từ giới đại gia xuống đa số quần chúng làm tăng hố sâu giàu nghèo cho dù mang tiếng Cộng Sản. Dân tình bất mãn giúp Tập Cận Bình thừa cơ dùng chiêu bài “Thịnh Vượng Chung” (Common Prosperity) để tấn công nhằm bẻ gãy ảnh hưởng của các đại tập đoàn như Alibaba và Tencent.(4)

Bức tranh trên chỉ mới sơ lược vì câu chuyện còn phức tạp hơn nhiều. Kinh Tế Dễ Hiểu xin dành loạt bài kế tiếp bàn về mô hình kinh tế Trung Quốc. 

 

 

TÓM TẮT

  1. Trọng cung: cắt giảm thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư tạo công ăn việc làm. Mức cung tăng khiến hàng hóa giá rẻ
  2. Trọng cầu: có nhu cầu mới dẫn đến sản xuất nên nhà nước phải thúc đẩy sức tiêu thụ trong nước
  3. Đảng Cộng Hòa trọng cung. Đảng Dân Chủ trọng cầu
  4. Trung Quốc trọng cung. Hoa Kỳ trọng cầu. 

 

 

______________

Ghi chú:

(1)  Thực tế là các Tổng Thống Cộng Hoà vừa giảm thu (cắt thuế) lại tăng chi (Reagan tăng ngân sách quốc phòng, Bush con tăng Medicare và Trump kích cầu cúm Tàu) để không thất cử vì dân chúng phản đối. Cho nên dưới thời Cộng Hòa ngân sách thiếu hụt rất lớn (deficit). Riêng trường hợp của Bush cha (Cộng Hòa) thất cử vì tăng thuế và vi phạm lời hứa danh dự không tăng thuế (read my lips, no new tax.)

(2)  TEA PARTY bị dịch sai nghĩa như Đảng Trà. Chử TEA lấy từ 3 mẫu tự đầu của Tax Enough Already, tức thuế nặng quá rồi chịu đời sao thấu!

(3)  Hạ tầng (infrastructure) thường được hiểu như đường xá, cầu cống, Internet, phi trường, hải cảng v.v… Sang thời Biden tô vẽ hạ tầng mở rộng nay gồm cả tầng dưới con người (human infrastructure) như tiền mẫu giáo, tiền nuôi ông bà già. Cho nên Biden đòi chi tiêu 1000 tỷ USD cho tầng dưới (infrastructure) rồi thêm 3500 tỷ USD cho tầng háng (human infrastructure).

(4)  Tập Cận Bình nếu thật tình muốn kiến tạo Thịnh Vượng Chung phải đập phá các tập đoàn quyền lực trong chính nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc thay vì chỉ nhắm vào các tập đoàn tư nhân.


 

CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)
Việt Nam Thời Báo
error: