VNTB – Lạm bàn chuyện về quyền tư pháp

VNTB – Lạm bàn chuyện về quyền tư pháp

Overview

Cửu Long

 

(VNTB) – Bài viết này nhằm hưởng ứng kêu gọi về đóng góp ý kiến cho việc xây dựng các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Nội dung chính của bài viết được căn cứ vào tiết giảng dạy của GS.TS. Võ Khánh Vinh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam – Sở dĩ cần nhấn mạnh chi tiết đó, nhằm để minh định, tránh định kiến các bài viết trên trang Việt Nam Thời Báo thường có nội dung của dấu hiệu vi phạm theo Điều 117, Bộ luật hình sự.

Trở lại với câu chuyện tạm gọi là “lạm bàn”.

Quyền tư pháp được giải nghĩa là một trong ba bộ phận, phạm vi, lĩnh vực, loại quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Ai cũng rõ rằng quyền tư pháp thuộc về Tòa án.

Tính phối hợp của quyền tư pháp ở Việt Nam được hiểu ít nhất ở hai phương diện: Thứ nhất, sự phối hợp của quyền tư pháp với quyền lập pháp, với quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực thống nhất;

Thứ hai, sự phối hợp của cơ quan tư pháp (Toà án) với các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp (Viện kiểm sát, cơ quan công an, cơ quan thi hành án). Có thể gọi đó là sự phối hợp bên ngoài, và sự phối hợp bên trong. Đây là đặc trưng riêng của quyền tư pháp ở Việt Nam.

Vấn đề đặt ra ở đây là phối hợp ở đâu và phối hợp như thế nào, mối quan hệ giữa tính phối hợp và bảo đảm tính độc lập của quyền tư pháp?.

Về nguyên tắc, trong mọi trường hợp, tính phối hợp của quyền tư pháp và của thực hiện quyền tư pháp không được phương hại đến tính độc lập của quyền tư pháp và của thực hiện quyền tư pháp – Bởi lẽ, tính độc lập là đặc trưng cốt lõi, giá trị cốt lõi của quyền tư pháp.

Ở các nước thực thi quyền lực nhà nước theo chế độ phân quyền, không có đặc trưng này, ở đó quyền tư pháp cân bằng, đối trọng với quyền lập pháp, với quyền hành pháp, Toà án là trọng tài của bên buộc tội và bên giở tội, không phối hợp với bên nào trong tố tụng tư pháp.

Vấn đề khác. Sự kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền lập pháp được thể hiện tập trung ở vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Toà án Hiến pháp, tức là chức năng giám sát, bảo vệ Hiến pháp.

Toà án Hiến pháp có quyền năng kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật đã được ban hành, có quyền coi một đạo luật nào đó do Quốc hội (Nghị viện) ban hành là vi hiến.

Cơ chế chung bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam được ghi nhận Điều 119 Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Theo đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật quy định.

Như vậy, Hiến pháp Việt Nam đã tạo ra cơ sở hiến định cho sự thành lập cơ chế chuyên trách bảo vệ Hiến pháp, nhưng đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có cơ chế chuyên trách giám sát, bảo vệ Hiến pháp. Đó là sự chậm trễ cần sớm được khắc phục.

Ngoài ra, cũng cần thấy rằng sự kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp thể hiện ở việc tổ chức và hoạt động của tư pháp hành chính: phán quyết về tính hợp pháp của các quyết định của các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn trong việc thực hiện quyền hành pháp.

Ở phương diện này, sự kiểm soát của quyền tư pháp ở Việt Nam đối với quyền hành pháp vẫn chưa đầy đủ: chưa phán quyết về tính hợp pháp của các văn bản do Chính phủ ban hành.

Giờ là bàn tiếp về vấn đề thường được coi là nhạy cảm chính trị.

Trong các chế độ đa nguyên, quyền tư pháp không mang tính chính trị, không thuộc về Đảng phái chính trị nào. Trong chế độ nhất nguyên chính trị, quyền tư pháp là một bộ phận của quyền lực chính trị.

Ở Việt Nam, quyền tư pháp mang tính chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo đối với quyền tư pháp. Đây là đặc trưng đặc thù của quyền tư pháp ở Việt Nam.

Vấn đề quan trọng ở đây là lãnh đạo làm sao để vẫn bảo đảm được tính độc lập của quyền tư pháp?. Lãnh đạo về mặt tổ chức như thế nào? Lãnh đạo về mặt hoạt động như thế nào? Quyền tư pháp có giám sát quyền lực chính trị hay không?

Trên phương diện chính trị, quyền lực chính trị, người viết cho rằng cần phải coi trọng, đề cao quyền tư pháp đúng thực chất, hiện thực như vốn có của nó trong cơ chế quyền lực chính trị trong điều kiện một Đảng cầm quyền – cụ thể, cần có đại diện của quyền tư pháp trong Bộ Chính trị, trong thường vụ cấp uỷ các cấp tương ứng.

Categories: Chính Trị, Tin mới, VNTB

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.