VNTB – Nghi vấn khai thác khoáng sản ở dự án hồ thủy lợi Ka Pét

VNTB – Nghi vấn khai thác khoáng sản ở dự án hồ thủy lợi Ka Pét

Hùng Sơn

 

(VNTB) – Bình Thuận có trữ lượng và tài nguyên titan lớn nhất với 599 triệu tấn, chiếm 92% tổng trữ lượng quặng titan của cả nước.

 

Cần công khai trên báo chí kết quả hảo sát địa chất ở dự án hồ thủy lợi Ka Pét bởi đang có ngờ vực về lợi ích nhóm trong khai khoáng tài nguyên quốc gia.

Bình Thuận có nhiều tích tụ khoáng sản đa dạng về chủng loại: vàng, wolfram, chì, kẽm, nước khoáng và các phi khoáng khác. Bình Thuận là địa phương có trữ lượng và tài nguyên titan lớn nhất cả nước với 599 triệu tấn, chiếm 92% tổng trữ lượng quặng titan của cả nước.

Theo xác nhận qua các báo cáo của chính quyền thì hiện trên địa bàn tỉnh có 15 điểm mỏ quặng titan được cấp phép, chủ yếu tập trung tại các huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Hàm Tân và Tuy Phong.

Theo Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận, hiện nay, tổng diện tích đưa vào kỳ Quy hoạch thăm dò, khai thác titan đến năm 2020 là 26 khu vực với 19.527 ha; trong đó, 8 khu vực chưa cấp phép thăm dò khoáng sản, 10 khu vực đã cấp giấy phép thăm dò, 8 khu vực đã cấp giấy phép khai thác.

Đối với 8 giấy phép khai thác đã cấp, đến nay có 4 giấy phép xây dựng cơ bản mỏ và hoạt động khai thác, diện tích khai thác khoảng 170ha.

Tin tức trên báo chí thì dự án hồ thủy lợi Ka Pét được Quốc hội phê chuẩn. Ở đây, nhóm tác giả viết bài này cho rằng cần soát xét lại về dự án đặt trong yêu cầu tham khảo Kết luận số 76-KL/TW ngày 28-11-2013 của Bộ Chính trị khóa XI “Về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XII, nhiệm kỳ 2010 – 2015 và một số chủ trương phát triển tỉnh Bình Thuận đến năm 2020”.

Đặc biệt, ngày 10-2-2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Trong đó, Bộ Chính trị đã đề ra 4 quan điểm phát triển cụ thể, gồm:

(i) Tiềm năng khoáng sản “cần phải được quy hoạch, điều tra, thăm dò đầy đủ; được quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả”.

(ii) “Điều tra cơ bản địa chất phải đi trước một bước, làm cơ sở xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển…”.

(iii) “Công tác quy hoạch phải có tầm nhìn chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội cả trước mắt, trung và dài hạn; hài hòa giữa bảo tồn và phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa, thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo quốc phòng an ninh, chủ quyền quốc gia”.

(iv) “Có sự gắn kết chặt chẽ, hiệu quả từ khâu quy hoạch, điều tra, thăm dò, khai thác đến chế biến sử dụng khoáng sản; ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại đại, theo mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh”.

Vậy thì phải chăng sau thời gian tập trung khai khoáng ở những cánh rừng ven biển, giờ đây người ta muốn tiến sâu hơn vào bên trong nữa với các khu rừng còn nguyên sơ hiếm hoi ở tỉnh Bình Thuận như vụ hồ thủy lợi Ka Pét?

Dữ liệu công khai cho đến hiện tại vẫn chưa thấy đề cập có hay không tài nguyên khoáng sản ở hơn 600 ha rừng (trong đó có hơn 137ha rừng đặc dụng) chuyển mục đích sử dụng để làm dự án hồ thủy lợi Ka Pét.

Xin nhắc lại, rừng là bộ phận kết cấu hạ tầng sinh thái của đất nước. Lời nguyền tài nguyên có câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” ngẫm suy thật chuẩn xác vì đó là cái giá phải trả do đối xử tệ hại với môi trường sinh thái tự nhiên. Nếu rừng bị tàn phá, mất đi, hoặc không được quản lý và tái tạo đúng cách, các hệ sinh thái sẽ bị hủy hoại, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, gây ra hiện tượng sạt lở, hạn hán, mất đa dạng sinh học… gây thiệt hại lớn đến kinh tế và cuộc sống của con người.

“Mỗi người có thể đưa ra quan điểm khác nhau. Nhưng, rừng có mối liên hệ mật thiết với nước thì không thể phủ nhận. Người Pháp đã từng gọi ngành lâm nghiệp Việt Nam là ngành “thủy lâm”. Nước và rừng gắn bó với nhau, rừng có “trách nhiệm” với nước. Rừng không chỉ cung cấp gỗ mà phải cung cấp nước. Nếu ở đâu suối không có nước thì ở đó chưa là rừng.

Người dân tộc thiểu số ở miền núi hiểu rằng nếu không có rừng thì không thể có nước, vậy nên phải giữ rừng đầu nguồn. Nếu suối cạn nước, họ phải chuyển đi chỗ khác.

Người Thái, người Tày gọi rừng phòng hộ đầu nguồn là “mó nước”. Họ có thể không biết chữ nhưng họ hiểu mối quan hệ mật thiết giữa rừng và nước. Kinh nghiệm thực tế cuộc sống và tri thức dân gian đều biết điều đó” – giáo sư, tiến sĩ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý Rừng bền vững và Chứng chỉ rừng, nhận xét như vậy.

Ông Nguyễn Ngọc Lung nói rằng cần tránh đi lại vết đổ một thời: “Đó là thời kỳ tiếng nói của các nhà khoa học không được lắng nghe. Lúc bấy giờ đang tập thể hóa thì người ta chỉ nghe bí thư đảng ủy, chủ nhiệm hợp tác xã.

Hợp tác xã trồng cây gì là do chi bộ ra nghị quyết. Vai trò trong xã hội của nhà khoa học rất yếu, kể cả người giỏi. Nhiều nhà khoa học có khi còn bị đối xử tệ bạc vì những tiếng nói trung thực của mình. Chúng ta chỉ thấy cây mà không thấy rừng”…


CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (2)
  • comment-avatar

    Theo tôi kg nên là hồ chứa nước tại rừng paket

  • comment-avatar
    Phạm duy Tuấn 10 months

    Theo tôi kg nên là hồ chứa nước tại rừng paket