VNTB – Vì sao Việt Nam gặp khó khăn với Covid-19?

VNTB – Vì sao Việt Nam gặp khó khăn với Covid-19?

Anh  Khoa  dịch

 

(VNTB) – Từng được coi là tiêu chuẩn vàng trong  việc  phản ứng với COVID-19, Việt Nam hiện đang chống chọi với tình trạng lây nhiễm gia tăng và triển khai vắc xin bị đóng băng.

 

Tác giả: Zachary Abuza

Việt Nam hiện đang ở trong một tình thế khó khăn bất thường, với lượng ca nhiễm gia tăng mạnh  và tỷ lệ tiêm chủng thấp nhất trong tất cả các nước Đông Nam Á. Cách đây vài tháng, Việt Nam đã được coi là tiêu chuẩn vàng cho các nỗ lực ứng phó với COVID-19. Việt Nam đã có một số tỷ lệ lây nhiễm và tử vong thấp nhất  trên thế giới, mặc dù có đường biên giới dài 1.300 km với Trung Quốc và thương mại song phương phát triển mạnh mẽ. Kết quả là, mặc dù lo sợ về sự suy thoái kinh tế lớn hơn, kinh tế Việt Nam là quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á tăng trưởng kinh tế tích cực vào năm 2020, dù chỉ 2%, khác xa với mức tăng trưởng 6-7% trong 5 năm qua.

Nhiều nghiên cứu cho thấy chi tiết lý do thành công của Việt Nam, trong đó có một vài nghiên cứu đáng chú ý. Có lẽ hệ thống chính trị Việt Nam, gần như mô phỏng theo Trung Quốc, đã cho các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rõ hơn. Các ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam cũng không bỏ sót gì khi những người đồng cấp Trung Quốc họp khẩn vào giữa Tết Nguyên đán. Hoạt động mạng  của Việt Nam cũng có thể đã cung cấp cho lãnh đạo thêm thông tin tình báo về vấn đề. Nếu không có gì khác, thì sự ngờ vực lớn đối với Trung Quốc và sự hiểu biết về phương thức hoạt động của Bắc Kinh, định hình phản ứng của Hà Nội.

Bất chấp điều đó, Hà Nội đã hành động với độ cao tuyệt vời. Biên giới bị phong tỏa, và áp đặt cách ly trong các doanh trại quân đội. Các chiến dịch thông tin công khai rất hấp dẫn và đúng thông điệp. Và chính phủ đã có thể khai thác chủ nghĩa dân tộc của người dân và chuyển sang giống như huy động thời chiến, cùng với các áp phích và loa tuyên truyền chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa khắp nơi.

Nhưng điều thực sự giúp ích về mặt nào đó là một hệ thống y tế công cộng rất tốt, tập trung vào việc phòng ngừa chứ không phải chữa bệnh tốn kém. Hệ thống y tế công cộng của Việt Nam đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc đối phó với SARS, bệnh cúm gia cầm, và các loại vi rút lây truyền từ động vật sang người khác, và ban lãnh đạo y tế công đã đưa ra quy đinh và thủ tục hiệu quả, kiểm dịch nghiêm ngặt và truy tìm tiếp xúc.

Ban lãnh đạo Việt Nam đã rất tự hào về phản ứng thực dụng, phi chính trị hóa và rõ ràng đã đạt được tính chính danh công khai từ những thành công của họ.

Tuy nhiên, nay Việt Nam đang gửi tin nhắn yêu cầu Quyên góp cho quỹ vắc xin, và có tỷ lệ tiêm chủng kém hơn cả Lào và Myanmar nghèo khó. Trong khi những quốc gia này đang trong nội chiến và bất ổn hàng loạt. Với tốc độ tiêm chủng hiện nay, Việt Nam sẽ không đạt được khả năng miễn dịch trong một thập niên.

Điều gì đã gây ra sự đảo ngược này? Không nghi ngờ gì nữa, Việt Nam đã là nạn nhân của chính sự thành công của họ. Với tỷ lệ lây nhiễm thấp như vậy, họ không khẩn cấp tìm mua vắc-xin. Việt Nam đã ký hợp đồng cung cấp vắc-xin, nhưng tương đối muộn và phải chờ rất lâu mới tới lượt.

Với các biến thể mới và nền kinh tế đang trong giai đoạn mở cửa trở lại, một nửa trong số 8.000 ca COVID-19 của Việt Nam – nhìn chung vẫn là một con số rất thấp – xuất hiện từ tháng Tư. Do những đợt bùng phát dịch mới này, vào đầu tháng 6, chính phủ đã ký hợp đồng mua 31 triệu liều vắc xin Pfizer vào cuối năm nay; 38,9 triệu liều AstraZeneca từ COVAX, cộng với 30 triệu liều mua hàng của công ty; và đạt được thỏa thuận mua 50-150 triệu liều Sputnik V. Thêm vào đó, Việt Nam đang thương thảo với hãng Medigen của Đài Loan để mu a 3-10 triệu liều vắc xin, và cũng đang làm việc với hãng Moderna mà chưa rõ số lượng.

Nhìn chung, Việt Nam đã đảm bảo 170 triệu liều, đủ để đạt được miễn dịch cộng đồng. Vắc xin sẽ không được giao trước cuối năm 2021 hoặc đầu năm 2022. Vì lý do này, chính phủ hiện đã cấp phép cho vắc xin Sinopharm  của Trung Quốc, và hiện đang chịu áp lực bắt đầu nhập khẩu ngay lập tức, bất chấp phản ứng dữ dội của chủ nghĩa dân tộc và sự nghi ngờ chung của công chúng Việt Nam.

Một phần nguyên nhân khiến Việt Nam không đạt được các thỏa thuận là do quan tâm đến việc sản xuất vắc xin bản địa. Việt Nam hiện có 4 loại vắc xin nội địa khác nhau đang được thử nghiệm: Nanogen, Vabiotech, Polyvac và Viện vắc xin và sinh phẩm y tế (IVAC). Các công ty đang thử nghiệm giai đoạn hai và ba vì không có mấy ca nhiễm trong nước để tiến hành thử nghiệm lâm sàng và không có công ty nào có nhiều kinh nghiệm trong việc thử nghiệm ở các quốc gia khác.

Mặc dù có mối quan tâm rõ ràng trong việc sử dụng đại dịch để bắt đầu lĩnh vực công nghệ sinh học, nhưng một hướng hành động tốt hơn nhiều sẽ là có một hoặc hai trong số các công ty dược phẩm cấp phép sản xuất một trong các loại vắc-xin mRNA.

Ví dụ, một công ty ở Thái Lan thuộc sở hữu của Đức vua, không có kinh nghiệm trong sản xuất vắc xin, đang sản xuất vắc-xin của AstraZeneca, và đã chậm sản xuất, không chỉ ảnh hưởng đến Thái Lan, mà còn cả Malaysia và Philippines. Đây là khoảng trống mà Việt Nam đáng lẽ phải lấp đầy, đặc biệt là khi nền kinh tế của nước này đang hoạt động hiệu quả khi rất nhiều quốc gia trên thế giới đang bị cách ly.

Việt Nam hiện đang cố gắng lấp đầy khoảng trống này, nhưng đã muộn. Vào tháng 6 năm 2021, Bộ Y tế đã tiếp cận với chương trình COVAX của Tổ chức Y tế Thế giới về việc thành lập một cơ sở sản xuất tại Việt Nam nhằm nhượng quyền các loại vắc xin khác nhau  để sản xuất cho trong nước và cho COVAX. Và trong các cuộc đàm phán gần đây với Johnson & Johnson, Việt Nam không chỉ đồng ý mua vắc xin mà còn giấy phép sản xuất.

Bỏ qua việc ký hợp đồng thất bại, chính phủ nên tính đến thực tế là cho đến nay họ mới chỉ phân bổ 630 triệu đô la trong số 1,1 tỷ đô la cần thiết để mua 150 triệu liều vắc xin trong năm nay cho 70% dân số của mình. Trong khi đó, tư nhân và doanh nghiệp đã đóng góp được $ 329 triệu  cho quỹ mua vắc xin.

Vậy chính quyền có đáng trách không? Ở một mức độ, có. Ở cấp cơ bản nhất, việc phê duyệt vắc xin còn chậm. đến nay, chỉ có ba loại vắc xin (AstraZeneca, Sputnik V và Sinopharm) đã được các cơ quan chức năng của Việt Nam phê duyệt.

Vào tháng 1, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức Đại hội Đảng lần thứ 13, quá trình chuyển giao quyền lãnh đạo mỗi 5 năm. Sau đó là cuộc bầu cử chính phủ mới vào tháng 5 . Rõ ràng, tân thủ tướng Phạm Minh Chính, không giống như nhiều người tiền nhiệm chưa từng làm phó thủ tướng, đã chùn bước.

Trong cuộc điện đàm đầu tháng 6 với người đồng cấp Trung Quốc Lý Khắc Cường, Phạm Minh Chính yêu cầu “Sự hợp tác và hỗ trợ của Trung Quốc để Việt Nam có được vắc xin COVID.” Một số người ở Việt Nam lo lắng rằng điều này sẽ tạo thêm đòn bẩy cho Trung Quốc khi đề cập đến các vấn đề như Biển Đông.

Và thực sự, một số người nghĩ rằng đó chính là ý định của chính phủ: Điều này sẽ tạo ra không gian để đưa ra những nhượng bộ đau đớn về vấn đề chủ quyền mà chính phủ biết rằng họ sẽ thực hiện. Đó là một cách để chính phủ ngăn chặn và định hình phản ứng dữ dội chống Trung Quốc mà họ biết là sẽ gia tăng trên mạng. Tinh thần chống Trung Quốc có thể biến đổi rất nhanh thành chống chế độ, đặc biệt nếu công chúng cảm nhận được rằng chính phủ đã bán rẻ lợi ích quốc gia cho Trung Quốc.

Tâm dịch ở Việt Nam hiện nay là tỉnh Bắc Giang, nơi mà thủ tướng đã từng đứng đầu, và nằm trong chuỗi cung ứng của Trung Quốc Nhiều người chỉ trích chính phủ từ lâu đã xem Phạm Minh Chính một cựu quan chức Bộ Công an, là quá thân thiết với Trung Quốc.

Việt Nam sẽ vượt qua dịch bệnh. Họ đã có một cú vấp bất ngờ. Nhưng có một chính phủ hiệu quả, một hệ thống y tế công tốt và người dân yêu nước sẽ tập hợp lại. Quan trọng nhất là Việt Nam khao khát phát triển kinh tế, và không bị mắc vào bẫy thu nhập trung bình. Thoát khỏi đại dịch càng nhanh càng tốt là chìa khóa cho điều đó.

Nhưng đối với một chế độ đã sử dụng đại dịch để củng cố tính hợp pháp, đợt dịch này và việc triển khai vắc-xin không đủ năng lực đã làm hoen ố danh tiếng của họ. Và với một mạng cư dân mạng tích cực, chính phủ sẽ nhận những lời chỉ trích dồn dập. Chính phủ đang ở giữa một chiến dịch đàn áp tàn bạo  đối với các nhà báo độc lập và các nhà bất đồng chính kiến, nhưng nhắm vào những người chỉ trích về vấn đề này có thể là phản ứng tồi tệ nhất đối với việc triển khai vắc xin đáng thất vọng của Việt Nam.

*Zachary Abuza là giáo sư tại Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington, DC

Nguồn: The  Diplomat


 

 

CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)