VNTB – Vì sao Việt Nam trở thành nước công an?

VNTB – Vì sao Việt Nam trở thành nước công an?

 

(VNTB) – Sau nhiều năm chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế, Đảng Cộng sản đang tìm kiếm một hình thức chính danh khác – sắc bén hơn.

 

Tác giả: David Hutt

 

Từng được nổi tiếng về ổn định chính trị, mặc dù thuộc loại quốc gia độc đảng, độc tài, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) nổi tiếng là khó đoán. Đảng đã sa thải hai chủ tịch nước trong hai năm trong chiến dịch chống tham nhũng  được thực hiện từ năm 2016. Chủ tịch Quốc hội đã được phép từ chức vào tháng trước. Bộ Chính trị đã mất 4 thành viên hàng đầu trong 18 tháng qua.

Trước Đại hội Đảng toàn quốc tiếp theo vào năm 2026, khi các quyết định nhân sự trong tương lai sẽ được công bố, các cơ quan an ninh đã đảm nhiệm. Những ứng cử viên khả thi duy nhất để kế nhiệm ông Nguyễn Phú Trọng, 80 tuổi, làm tổng bí thư là Thủ tướng Phạm Minh Chính và Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm, cả hai đều là cựu tướng công an.

Bill Hayton của Chatham House đã viết vào tuần trước: “Dù ai thắng trong cuộc đua này… Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia công an trị theo đúng nghĩa đen”. Thật vậy, Chỉ thị 24, một nghị định bị rò rỉ hồi đầu năm nay, hướng dẫn các đảng viên hạn chế tiếp xúc với các tổ chức nước ngoài và cứng rắn hơn đối với “diễn biến hòa bình” ở bất cứ nơi nào mà bộ máy an ninh cho rằng có thể có. Sự đàn áp đã gia tăng kể từ năm 2016.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi ĐCSVN chỉ quan tâm đến một điều: sự sống còn của chế độ.

Thứ nhất, chống tham nhũng là một cách để Đảng đạt được tính chính danh không gắn liền với tăng trưởng kinh tế. Đến cuối những năm 1990, trong xã hội không còn ai quan tâm đến chủ nghĩa xã hội. Đến cuối những năm 2000, ĐCSVN không còn là trọng tài cho chủ nghĩa dân tộc nữa – trên thực tế, nhiều người hiện nay coi đó là kẻ phản bội vì đã bán đứng người Trung Quốc đáng ghét.

Vị vậy chỉ còn lại mức tăng trưởng kinh tế làm cơ sở cho tính hợp pháp của đảng. Tuy nhiên, thái độ trục lợi của các chính quyền cộng sản trước đây, vốn coi tham nhũng là một cách để gắn kết đảng với nhau và làm giàu cho bản thân, đã khiến thường dân Việt Nam tức giận, tham nhũng trở thành một mối quan tâm hiện hữu của Đảng.

Đối với Nguyễn Phú Trọng, cũng như Hồ Chí Minh, Đảng phải là lực lượng “có đạo đức”;  phải được người dân tôn trọng vì những lý do khác ngoài lợi ích kinh tế của họ.

Thứ hai, chống tham nhũng đã cho phép ĐCSVN kiểm soát khu vực tư nhân, khu vực có nguy cơ trở thành mối đe dọa chính trị. Sự giàu có của những người siêu giàu đã làm họ trở nên quá độc lập. Tầng lớp trung lưu ngày càng đòi hỏi nhiều quyền tự do chính trị hơn. Giờ đây, khu vực tư nhân đang run sợ và sẵn sàng chấp nhận mệnh lệnh của Đảng.

Thứ ba, việc chống tham nhũng cung cấp một phương tiện cho các phe phái để thanh trừng đối thủ – và những cựu công an làm việc này tốt hơn các nhà kinh tế có trình độ đại học.

Liệu điều này có làm suy yếu nền kinh tế hay không. Một số người cho là có. Quan chức bây giờ trì hoãn các quyết định quan trọng vì sợ bị khiển trách do làm thất thoát tiền nhà nước. Đầu tư công đã giảm. Một số nhà đầu tư đang lo lắng về việc thanh lọc các bộ trưởng và quan chức đảng có năng lực kinh tế.

Một số người nói là không. Chiến dịch chống tham nhũng đã cải thiện sự thuận lợi trong kinh doanh, cải thiện niềm tin của nhà đầu tư và loại bỏ (một số) lĩnh vực quan trọng trong các doanh nghiệp yếu kém. Tuy nhiên, ĐCSVN có thể đã làm được hết  những điều đó mà không cần đàn áp gay gắt hơn và thanh trừng tất cả trừ các cựu công anh. Nhưng Đảng không làm vậy vì Đảng biết có thể sẽ có kết quả tốt đẹp.

Vụ bê bối tham nhũng 12 tỷ USD trong năm nay liên quan đến bà Trương Mỹ Lan, đã làm dấy lên mối lo ngại về mức độ độc hại của hệ thống tài chính. Lĩnh vực bất động sản vẫn chưa ổn định sau đợt biến động lớn vào năm ngoái. Việt Nam quá phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu; thậm chí còn cắt năng lượng của các nhà máy.

Việt Nam sẽ cùng Singapore và Thái Lan trở thành một xã hội “già” vào đầu những năm 2030 khi hơn 14% dân số ở độ tuổi trên 65. Tuy nhiên, không giống như Thái Lan, những thay đổi về nhân khẩu học sẽ không gây ra cú sốc lớn cho lực lượng lao động của Việt Nam. Thái Lan sẽ mất đi 400.000 người trong độ tuổi lao động mỗi năm từ nay đến năm 2050. Việt Nam sẽ chỉ mất 200.000 người trong cùng thời kỳ.

Mặc dù vậy, Việt Nam đã vượt qua đỉnh cao về nhân khẩu học, điều đáng lo ngại khi ưu điểm lớn nhất trong kinh doanh là quy mô và chi phí lao động thấp (chỉ bằng một nửa so với Trung Quốc) và khi tỷ lệ năng suất nằm trong số những nước yếu nhất ở châu Á: 10,2 đô la mỗi giờ vào năm 2021 , so với 13,5 USD ở Trung Quốc, 15 USD ở Thái Lan và 12,9 USD ở Indonesia.

Nhân khẩu học của Việt Nam sẽ bắt đầu xấu đi sau năm 2050 với lượng người tham gia lực lượng lao động ít hơn. Số người già sẽ vượt số trẻ em vào năm 2040.

Quả thực, Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất toàn cầu. Năm 2020, độ tuổi trên 65 chiếm 8% dân số. Vào năm 2050, tỷ lệ này sẽ là 20%. Hoặc xét theo tỷ lệ hỗ trợ người già, trong đó so sánh số người trong độ tuổi 20-64 (những người đóng thuế và phát triển nền kinh tế) với những người trên 65 tuổi (những người không đóng thuế và làm hao mòn tiền của người khác). Năm 2010 tỷ lệ này là 9,2. Nhưng năm 2020 giảm xuống còn 7,3 vào năm 2020 và sẽ giảm mạnh xuống dưới 3 vào năm 2050.

Tuy nhiên, nhà nước chỉ trả tiền hưu trí cho 40% người cao. Phần lớn gánh nặng chăm sóc sức khỏe do các gia đình tự móc túi trả.  Chi phí y tế của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều so với các nước khác. Người dân phải tự trả khoảng 40% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe so với 10% ở Thái Lan.

Hơn nữa, người Việt hiện nay còn nghèo hơn nhiều so với các nước láng giềng. GDP bình quân đầu người chưa đến 4.200 USD, so với 7.000 USD ở Thái Lan và gần 12.000 USD ở Malaysia. Quỹ tiền tệ quốc tế cảnh báo Việt Nam có nguy cơ “già trước khi giàu”.

Hà Nội sẽ phải tăng thuế ồ ạt để trả lương hưu và y tế. Tuy nhiên, thu ngân sách của chính phủ tính theo phần trăm GDP vẫn ở mức thấp,  chỉ  18,5% vào năm 2020, giảm so với những năm trước. Và tỷ lệ này ít hơn so với Malaysia, Thái Lan và Philippines, theo dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế.

Điều đó có nghĩa là nhà nước sẽ phải tăng thu. Nhưng điều đó có nghĩa là người lao động sẽ phải đóng  thuế nhiều trong khi người lao động không có quyền lên tiếng về hoạt động của chính phủ và đối với vấn đề như muốn được miễn thuế. Và điều đó có nghĩa là người lao động sẽ phải để dành nhiều tiền hơn cho ông bà, diều đó đồng nghĩa với việc họ sẽ có ít tiền hơn.

Đồng thời, chính phủ cần tăng năng suất để tiếp tục thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đang bị đình trệ và bảo vệ chuỗi cung ứng trước các quốc gia khác muốn tham gia sản xuất công nghệ.

Ngoài ra còn có những lo ngại nằm ngoài tầm kiểm soát của Hà Nội. Nền kinh tế Trung Quốc đang sụp đổ. Trong ngắn hạn, điều đó có nghĩa là sẽ có nhiều hoạt động chuyển hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam hơn. Tuy nhiên, Trung Quốc chiếm 1/4 thương mại của Việt Nam. Một thảm họa kinh tế ở Trung Quốc sẽ gây ra sự hỗn loạn về xã hội và chính trị ở biên giới phía bắc của Việt Nam.

Sau đó là Hoa Kỳ ngày càng không biết có muốn bảo vệ thương mại tự do cho các quốc gia khác trên thế giới hay không. Nếu Donald Trump- người từng gọi Việt Nam là “kẻ lạm dụng tồi tệ nhất” –  làm tổng thống nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, Việt Nam có thể bị áp thuế và trừng phạt chống bán phá giá, nhất là vì có quá nhiều hàng hóa do Trung Quốc sản xuất tràn qua Việt Nam rồi tái xuất khẩu sang phương Tây.

Thay vì ngạo mạn về kinh tế, Đảng Cộng sản có lẽ đang lo sợ.

Đảng biết rằng chỉ còn hơn hai mươi năm nữa nhân khẩu học bắt đầu suy giảm và chỉ còn chưa đầy 20 năm nữa để giải quyết một số vấn đề lớn trong thị trường tài chính, tỷ lệ năng suất và cơ sở hạ tầng. Việt Nam có thể sẽ thành công mà cũng có thể không.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam không thể cấp đủ lương hưu hoặc chăm sóc sức khỏe cho người già? Điều gì xảy ra nếu năng suất giảm sút và lực lượng lao động trở nên kém cạnh tranh? Điều gì sẽ xảy ra nếu nhiều người bắt đầu nhờ người giúp đỡ về đóng thuế và yêu cầu hoàn thuế?  

Nếu thất bại sẽ có những mối đe dọa mới có khi nghiêm trọng hơn nhiều đối với an ninh của chế độ. Do đó, thật hợp lý khi ĐCSVN tự đắp đê để ngăn lũ; để Đảng tạo ra tính hợp pháp khác ngoài tốc độ tăng trưởng cao ngất ngưởng. Nhưng điều này sẽ khiến Đảng khó có thể  giải quyết các vấn đề đe dọa an ninh.

________________

Nguồn:

The Diplomat – Why Is Vietnam Becoming A Police State? 


 

CATEGORIES
TAGS
Share This

COMMENTS

Wordpress (0)