VNTB – Vụ tiến sĩ tố tiến sĩ, hậu trường vẫn còn chưa rõ

Hoài Nguyễn

(VNTB) – Theo thông báo ghi ngày 27-9, ông Phạm Đình Quý đã bị công an tỉnh này bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.

Ngày 30-9, ông Phạm Đình Trang (ngụ phường Tân An, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận), cho biết vừa nhận Thông báo của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk về sự việc liên quan đến con trai ông là Phạm Đình Quý, học vị tiến sĩ. “Tôi nhận được giấy từ bưu điện vào 11 giờ trưa hôm nay” – ông Trang xác nhận.

Theo thông báo ghi ngày 27-9, ông Phạm Đình Quý đã bị công an tỉnh này bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Theo cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, ông Quý đã có hành vi phát tán tài liệu nhằm hạ thấp uy tín, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, đã phạm vào Điều 156 Bộ luật Hình sự. Hiện ông Quý đang bị tạm giữ tại công an tỉnh này.

Luật sư Phạm Văn Thọ – Đoàn Luật sư TP.HCM, thắc mắc:

“Tôi đặt giả thiết, nếu như Công an Đắk Lắk truy tố ông Phạm Đình Quý theo khoản 01 của Điều 156 BLHS, thì phải căn cứ Theo Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tức là phải có Đơn yêu cầu khởi tố của bị hại, thì Công an Đắk Lắk mới được khởi tố.

Điều 155 quy định: Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 156 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) khi có yêu cầu của bị hại.

Vậy ai là bị hại trong vụ án này? Nếu bị hại là ông Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk – tên Cường, thì ông này đã gửi Đơn yêu cầu khởi tố đến cơ quan điều tra chưa?

Thế nhưng, theo nhận định của tôi, thì nhiều khả năng Công an Đắk Lắk sẽ không truy tố ông Quý theo khoản 1, vì “quá nhân văn”, mà sẽ truy tố cả hai ông Quý và Tuấn theo khoản 2 Điều 156, bởi các lẽ sau: Theo thông tin trước đó, ngày 21- 9, Công an Đắk Lắk đã bắt võ sư – tiến sĩ Hoàng Minh Tuấn (sinh năm 1980, là học trò TS Quý) khi người này đang trên đường từ nơi cư trú ở huyện Cư Kuin di chuyển xuống Khánh Hòa để điều tra, vì cho rằng cả hai ông Quý và Tuấn có hành vi vu khống một lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk.

Như vậy, Công an Đắk Lắk truy tố theo khoản 2 Điều 156, thì sẽ không lệ thuộc vào điều kiện phải có Đơn yêu cầu khởi tố của bị hại. Điều đặc biệt chú ý, rất có thể là họ sẽ áp dụng được các tình tiết định khung tăng nặng, như các điểm: “a) Có tổ chức; c) Đối với 02 người trở lên; và e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội…”.

Thật quá kinh khủng! Tôi tin các luật sư của ông Phạm Đình Quý chắc đã dự liệu điều này!”.

Đồng nghiệp chung Đoàn Luật sư TP.HCM với luật sư Phạm Văn Thọ là luật sư Nguyễn Hữu Thế Trạch nhận định, ông Phạm Đình Quý bị Công an tỉnh Đắk Lắk áp dụng 3 biện pháp ngăn chặn. Đó là “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp”; “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” và “Tạm giữ” quy định tại điều 110, 117 Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) 2015. Đây là vụ việc mang tính chất của tội phạm hình sự, không phải là tạm giữ hành chính.

Điều kiện để áp dụng biện pháp “Giữ người trong trường hợp khẩn cấp” khi thuộc một trong những trường hợp: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở người, hoặc tại chỗ ở, hoặc nơi làm việc, hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Theo nội dung vụ việc và loại tội phạm ông Quý bị cáo buộc là tội vu khống (theo Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015), ông Quý có thể bị xác định có hành vi vi phạm khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 156. Đây là loại tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt dưới 3 năm tù. Do đó, cơ quan công an có thể căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 110 Bộ luật TTHS 2015 để ra lệnh giữ người. Thời hạn giữ người trong trường hợp khẩn cấp không được quá 12 giờ.

Khi áp dụng biện pháp “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người (trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp), cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.

Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ cùng lý do, căn cứ. Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị giữ và phải lập biên bản về việc giữ; giao lệnh, quyết định cho người bị giữ.

Với biện pháp “tạm giữ”, biện pháp này có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ. Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật TTHS.

Thời hạn tạm giữ không quá 3 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị giữ, hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 3 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ 2 nhưng không quá 3 ngày.

Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì cơ quan điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Trường hợp ông Quý bị khởi tố bị can thì có thể bị tạm giam nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật TTHS 2015 hoặc có thể được cho tại ngoại bằng các biện pháp ngăn chặn khác như bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cứ trú.

Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết. Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.

Hiện nay Bộ luật TTHS không có quy định cấm mời làm việc/tạm giữ ban đêm, chỉ cấm bắt vào ban đêm. Theo quy định, sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã. Trừ trường hợp việc thông báo gây cản trở điều tra.

Tất cả cơ quan tiến hành tố tụng phải tuyệt đối tuân thủ Bộ luật TTHS. Nếu trong quá trình bắt giữ người trái với quy định của pháp luật thì người bị tạm giữ, người bị bắt và gia đình người thân có quyền gửi đơn khiếu nại đến cơ quan cấp trên về hành vi này.

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Do NOT follow this link or you will be banned from the site!
error: