VNTB – Có nên vận dụng mô hình tam quyền phân lập vào Việt Nam hiện nay?

VNTB – Có nên vận dụng mô hình tam quyền phân lập vào Việt Nam hiện nay?

Overview

Khánh Hòa

(VNTB) – Hiện tại, dường như bất kỳ ai cứ kiên trì cổ vũ cho một Việt Nam “tam quyền phân lập” là dễ đối mặt với nhóm tội danh xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại Chương XIII, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017).

 

Quan điểm của Đảng: chưa nên và không nên vận dụng vào Việt Nam hiện nay

Chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng” của tạp chí Tuyên Giáo (Ban Tuyên giáo Trung ương), trong bài viết đăng ngày thứ Sáu, 6/7/2018, tác giả ký tên kèm học vị PGS.TS. Trần Văn Phòng, đã cho rằng: “Mô hình tam quyền phân lập mang tính lịch sử, xã hội và sự vận dụng còn phụ thuộc vào truyền thống văn hóa, điều kiện lịch sử, quan hệ cũng như tương quan lực lượng giữa các giai cấp và trong từng giai cấp trong xã hội. Cho nên, chưa nên và không nên vận dụng vào Việt Nam hiện nay” (*).

PGS.TS. Trần Văn Phòng biện giải như sau về ý kiến chưa nên và không nên vận dụng tam quyền phân lập vào Việt Nam hiện nay:

Trước tiên, quyền lực nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thống nhất, mà quyền lực này thuộc về Nhân dân. Điều 2, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp 2013) ghi rõ:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Khi quyền lực nhà nước thống nhất thuộc về nhân dân thì quyền lực này về nguyên tắc không chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác. Về bản chất, các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền.

Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (2015) cũng do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm, nghĩa vụ phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ mà nhân dân ủy quyền. Điều 94, Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”. Điều 102, Hiến pháp 2013 quy định:

1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

2. Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.

3. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Điều 107, Hiến pháp 2013 quy định:

“1. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

2. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.

3. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.

Như vậy, ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước Việt Nam đều có mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân.

Trên thực tế, ba cơ quan này đều thực hiện quyền lực của nhân dân ủy quyền. Hơn nữa, trong Nhà nước Việt Nam có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Như vậy, về bản chất quyền lực của nhân dân không thể phân chia. Nhà nước Việt Nam không cần tới mô hình tam quyền phân lập bởi sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vì mục tiêu phục vụ Nhân dân được bảo đảm và thực hiện tốt.

“Ở Việt Nam, như trên chúng ta đã khẳng định, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức,v.v.. thống nhất và bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, kể cả đối với quyền và nghĩa vụ trong thực hiện quyền lực nhà nước. Các giai cấp này chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Do vậy, không cần phải nói tới việc phân chia quyền lực giữa các giai cấp này cũng như trong nội bộ từng giai cấp này. Từ đây cho thấy, những người hô hào phải vận dụng mô hình tam quyền phân lập vào nhà nước Việt Nam là những người ủng hộ đa đảng, đa nguyên chính trị. Mà điều này là không phù hợp thực tế Việt Nam cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn” – PGS.TS. Trần Văn Phòng.

Khi viết bài báo trên, PGS.TS. Trần Văn Phòng là Viện trưởng Viện Triết học – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Lập pháp – hành pháp – tư pháp của Việt Nam hiện nay?

Luật tổ chức Chính phủ, phiên bản 2015, ở Điều 1, ghi: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Tuy nhiên có một thực tế là tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều tham gia thực hiện quyền hành pháp ở những mức độ khác nhau.

Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước đồng thời được trao nhiều quyền hạn trong cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong lĩnh vực hành pháp, những quyền năng của Chủ tịch nước thể hiện khá nổi trội. Có thể liệt kê một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vực hành pháp như sau:

Một. Chủ tịch nước tham gia thành lập bộ máy Chính phủ. Khoản 2 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 quy định Chủ tịch nước có quyền: “Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ”.

Hai. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam.

Ba. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bốn. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.

Năm. Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.

Như vậy, Chủ tịch nước có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng, là trung tâm của ba nhánh quyền: lập pháp – hành pháp – tư pháp.

Với chính quyền địa phương, theo quy định của Hiến pháp năm 2013: “Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân” (khoản 2 Điều 113). “Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao” (khoản 2 Điều 114).

Như vậy, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện hai hoạt động: hoạch định chính sách và triển khai thực hiện pháp luật trong phạm vi địa phương. Đây cũng chính là những nội dung cơ bản của quyền hành pháp.

Xét dưới góc độ lý luận và luật thực định, chủ thể thực hiện quyền hành pháp không chỉ giới hạn bởi hệ thống cơ quan hành pháp mà còn được thực hiện mở rộng bởi các cơ quan quyền lực và cơ quan tư pháp, Chủ tịch nước và chính quyển địa phương. Nói cách khác, quyền hành pháp không phải là quyền độc tôn của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.

Tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều tham gia thực hiện quyển hành pháp ở những mức độ khác nhau.

Từ góc nhìn ở trên, cho thấy với mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa – nói theo ngôn ngữ Tuyên giáo Đảng, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phân nhiệm chứ không phân quyền một cách cơ học, cứng nhắc như mô hình tam quyền phân lập của các nước tư sản.

Điều đó cũng có nghĩa là khi trao quyền hành pháp cho Chính phủ, Quốc hội vẫn giữ lại những thẩm quyền mang tính hành pháp. Trong khi triển khai quyền tư pháp, để đảm bảo hoạt động của mình Tòa án nhân dân vẫn thực hiện những công việc mang tính hành pháp.

Ngược lại, Chính phủ và Tòa án cũng phối hợp với Quốc hội thực hiện quyền lập pháp thông qua việc thực hiện quyền sáng kiến lập pháp, đệ trình soạn thảo các dự án luật. Mặt khác quy định về thẩm quyền đại xá của Quốc hội (khoản 11 Điều 70), về bản chất đây cũng là thẩm quyền mang tính tư pháp.

Và trên hết, tất cả những cơ quan kể tên ở trên đều phải đặt dưới quyền điều hành của Bộ Chính trị, chính điều đó dẫn đến nghi ngại về sự khách quan trong quản trị quốc gia. Việc một số ý kiến rằng thể chế chính trị Việt Nam cần rạch ròi hơn nữa về 3 nhánh quyền lực này là một đề xuất cần thiết tranh luận khoa học, thay cho quy chụp hình sự hóa.

___________________

Chú thích:

(*) http://tuyengiao.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/co-nen-van-dung-mo-hinh-tam-quyen-phan-lap-vao-viet-nam-hien-nay-113244

Categories: Chính Trị, Tin mới, VNTB

Write a Comment

Your e-mail address will not be published.
Required fields are marked*

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.