VNTB – Trung Quốc bất trị?

Hiếu Linh

 


(VNTB) – Xung đột quân sự dần thay đổi, hoàn tất ở một nơi và nhanh chóng chuyển sang nơi khác.

 

 

Động cơ của cuộc chiến là gì? Rõ ràng là đa dạng. Có thể là bảo vệ lợi ích của quốc gia hoặc nhóm chính trị. Áp đặt ý thức hệ hoặc tìm kiếm giá trị kinh tế hoặc duy trì tính liên tục của ngành công nghiệp quân sự.

Ai phát động chiến tranh? Có thể là người đứng đầu chính phủ. Quyết định đó dựa trên cáo buộc của nhóm tư vấn cấp chính phủ hoặc dựa theo quan điểm của các nhà vận động hành lang kinh doanh.

Ví dụ, căng thẳng Trung Đông mang lại giá trị kinh tế lớn cho các nhà buôn vũ khí. Năm 2019, Hoa Kỳ đã xuất khẩu 55,4 tỷ USD thiết bị quân sự cho 98 quốc gia. Khoảng 49% các điểm đến xuất khẩu trong năm 2019 là ở Trung Đông, đứng đầu là Ả Rập Saudi chiếm 18%, theo số liệu từ Viện nghiên cứu hòa bình Stockholm (SIPRI). (1)


Triền miền chiến tranh

 

Chiến tranh hiện đại bắt đầu trong giai đoạn từ ngày 28 tháng 7 năm 1914 đến ngày 11 tháng 11 năm 1918. Sau Thế chiến thứ nhất là Chiến tranh thế giới thứ hai từ năm 1939 đến năm 1945.

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã diễn ra trên lục địa châu Âu. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ngoài việc càn quét châu Âu, cuộc chiến này còn thu hút nhiều quốc gia ở châu Phi và châu Á cũng tham gia. Khoảng 20 triệu binh sĩ và 60 triệu dân thường trở thành nạn nhân.

Tại Trung Đông, cuộc chiến Ả Rập-Israel đầu tiên diễn ra vào năm 1948, nguồn gốc vì Anh ủng hộ người Do Thái định cư ở Palestine.

Tại Đông Á, cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên, kết thúc bằng việc thành lập một Hàn Quốc dân chủ và tự do và một nhà nước cộng sản Bắc Hàn bắt đầu vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 và cho đến ngày 27 tháng 7 năm 1953, 3 triệu người đã thiệt mạng.

Chiến tranh lan sang Đông Nam Á, cụ thể là Lào, Campuchia và Việt Nam. Tại đây, Mỹ và các đồng minh chiến đấu chống lại những người theo chủ nghĩa dân tộc / cộng sản ở Việt Nam, Lào và Campuchia với sự hỗ trợ của Trung Quốc và Nga. Số người chết là từ 1,3 triệu đến 4,2 triệu từ ngày 1 tháng 11 năm 1957 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Quay lại Trung Đông một lần nữa, trong giai đoạn 1967 – 1973. Mỹ hỗ trợ Israel và Nga bảo vệ các nước Ả Rập. Israel đã giành chiến thắng bằng cách kiểm soát Dải Gaza và bán đảo Sinai ở Ai Cập, Bờ Tây ở Jordan (bao gồm Đông Jerusalem) và Cao nguyên Golan ở Syria.

Chiến tranh Iraq-Iraq diễn ra từ năm 1980 đến 1988, cuộc chiến có sự tham gia của vũ khí hoá học. Gần 2 triệu người đã chết. Trong cuộc chiến này, Mỹ ủng hộ Iraq vì họ lo lắng về việc mở rộng ảnh hưởng của Imam Khomeini (thuộc dòng Hồi giáo Shiite) đến các đồng minh của mình ở Vịnh Ba Tư. Kế đến, trong Chiến tranh vùng Vịnh, Mỹ đã lật đổ Iraq và tử hình Tổng thống Saddam Hussein.

Chiến tranh vùng Vịnh diễn ra từ ngày 2 tháng 8 năm 1990 đến ngày 28 tháng 2 năm 1991. Đi ra từ cuộc chiến này, Mỹ có bảy căn cứ quân sự ở Kuwait, 2 căn cứ quân sự ở Bahrain và 5 căn cứ quân sự ở Ả Rập Saudi. Mặc dù kết thúc chiến tranh, quân đội Mỹ vẫn hiện diện tại các khu vực này. Sau đó, từ năm 1992 đến 1995, đã xảy ra cuộc chiến ở Trung Âu – cuộc chiến Bosnia cướp đi mạng sống của hơn 300.000 người Hồi giáo.

Gần đây, trong cuộc chiến ở Afghanistan. Mỹ đã phát động một cuộc tấn công dưới cái cớ lùng bắt Osama Bin Laden, người được cho là đã lên kế hoạch tấn công vào tòa nhà Trung tâm Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, nổi bật là nhóm Taliban. Cuộc chiến chống khủng bố được mở rộng vì “những kẻ khủng bố” đang lan rộng khắp nơi, bao gồm cả Syria. Cuối cùng, Mỹ và Taliban đã ký một thỏa thuận hòa bình, do Osama Bin Laden lãnh đạo và được tổ chức tại Doha, Qatar vào ngày 28 tháng 2 năm 2020. Bất chấp những thay đổi đó, Mỹ dường như duy trì sáu căn cứ quân sự ở Afghanistan vì nó gần với Nga và Trung Quốc.

 

Đi đâu và về đâu?

 

Thế giới sẽ đặt câu hỏi chiến tranh sẽ xảy ra ở đâu nữa? Có phải Iran không? Có phải ở Tân Cương và Hồng Kông và Trung Quốc, hay nó đang gia tăng ở Biển Đông?Hoặc nảy sinh xung đột lớn giữa Syria và Yemen?

Sự thật đã chứng minh rằng chiến tranh mở đường cho việc một quốc gia có được chỗ đứng, một thị trường thiết bị quân sự và cho thấy uy quyền tối cao của nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản tự do.

Từ chiến tranh, Mỹ có ít nhất 800 căn cứ quân sự ở nước ngoài. Số lượng quân ở các vị trí đóng quân là khác nhau, Trung Đông ít nhất 225.000 quân, trong khi riêng tại Nhật Bản, có 63.000 lính Mỹ.

Là đối thủ chính với Mỹ, khi Cộng sản Phương Đông biến mất cùng với sự sụp đổ của Xô Viết, thì sự hiện diện của quân đội Mỹ ở nước ngoài tiếp tục bị nghi ngờ.

Liệu sự duy trì quân đồn trú này của Mỹ có liên quan đến kế hoạch ứng phó với chủ nghĩa thực dân mới đã hình thành?

Chủ nghĩa thực dân mới

Sự bùng phát virus corona (Covid-19) ở Vũ Hán vào tháng 12 năm 2019 đã xuất hiện vào thời điểm thích hợp. Virus dễ dàng nhân lên trong thời tiết mùa đông. Nguồn gốc dịch bệnh theo giả thuyết là phù hợp với thói quen ăn thịt động vật hoang dã của người Trung Quốc, xảy ra trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và trong giai đoạn đầu tiên của thỏa thuận, khi cuộc chiến thương mại Trung-Mỹ bắt đầu lắng xuống.

Dựa trên tất cả những sự thật này, có thể giả định rằng sự bùng phát virus là một công cụ bất đối xứng của chiến tranh. Virus là một trong những công cụ bên cạnh kinh tế, thương mại, văn hóa khiến các đối thủ suy yếu.

Ai sẽ sớm bắt đầu cuộc chiến kế tiếp?

Cho đến nay, gần 300.000 nạn nhân của dịch Covid-19 đã chết (2), ít hơn nhiều so với số ngưởi tử vong trong Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, 65 quốc gia đã bị lây nhiễm, nhiều hơn nhiều so với các quốc gia trong Thế chiến II.

Corona tấn công nền kinh tế thế giới. Theo dự báo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và một số tổ chức quốc tế khác, nền kinh tế sẽ giảm xuống chỉ còn 1,5% đến 2,4%.

Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Standard & Poor’s (S & P) ước tính rằng tăng trưởng kinh tế năm nay của Bắc Kinh dự kiến ​​là 5%, so với các quốc gia khác ở ngưỡn 1,5 đến 2,4% thì tình hình Trung Quốc cũng không đến nỗi nào. Thế nhưng tác động của nền kinh tế yếu kém Trung Quốc rất rộng: nông dân Nam Mỹ khó khăn trong xuất khẩu nông sản; Việt Nam rất khó trở thành nhà xuất khẩu gạo; nông dân Mỹ đang mất thị trường của họ; nguồn khách du lịch Trung Quốc cho các thị trường dịch vụ trên thế giới bị chao đảo…. Ngoài ra, ảnh hưởng chuỗi cung ứng cũng là vấn để gây đau đầu với các quốc gia. Ví dụ: Ấn Độ mất nguồn cung cấp thiết bị của Trung Quốc, buộc quốc gia này phải hoãn việc xây dựng nhà máy điện. Nhiều hãng hàng không “nhàn rỗi” máy bay, công nhân trong nhà máy của Volkswagen, Land Rover, Apple,… đều rơi vào tình trạng mất việc.

Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Trung Quốc đã ảnh hưởng đến hàng chục quốc gia. Và Trung Quốc đã lợi dụng điều đó để mưu đồ các lợi ích quốc gia riêng. Độc chiếm Biển Đông, trấn áp Hồng Kông, dập tắt Tây Tạng, chi phối Phi Châu bằng khoảng nợ, đe doạ thống nhất Đài Loan bằng vũ lực.

Đại dịch Covid-19 khiến Trung Quốc trở nên bất trị, mưu đồ và tham vọng hơn dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.

Từ “nanh sói” trong ngoại giao đến “nanh sói” trong quân sự đang tiến triển nhanh. Biển Đông sớm trở thành nơi bùng phát một cuộc chiến mà quân đội Trung Quốc chờ đợi từ lâu để lực lượng này rèn giũa thực lực trong hoàn cảnh thực tế, sau quá trình tinh gọn quân đội thời ông Tập Cận Bình.

Nhắc lại rằng xung đột quân sự gần nhất mà quân đội Trung Quốc tham gia là Hải chiến Trường Sa 1988, cách đây 32 năm. Xung đột lớn hơn liên quan đến cuộc chiến Biên giới Viêt-Trung diễn ra cách đây 41 năm (1979).

__________________

Chú thích

(1) https://www.sipri.org/sites/default/files/2018-03/fssipri_at2017_0.pdf

(2) https://g.co/kgs/J6MwHu

 

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

Do NOT follow this link or you will be banned from the site!
error: